English
 
 
 
 
 
 
 
 
Lịch sử - Văn hóa  
Các hiệp định biên giới Việt Nam – Campuchia thời Pháp thuộc và vấn đề cơ sở chính trị - pháp lý của đường biên giới Việt Nam – Campuchia (01/10/2014)

Trên đất liền, hai nước Việt Nam và Campuchia có đường biên giới chung dài 1.137 km đi qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam, tiếp giáp với 9 tỉnh biên giới của Campuchia. Trong thời kỳ thực dân Pháp thống trị, biên giới này gồm có hai phần: (1) Biên giới giữa Nam Kỳ thuộc Pháp và Campuchia được hoạch định bởi hai Thỏa ước Pháp – Cao Miên năm 1870 và 1873, đã được hai bên phân giới và cắm mốc trên thực địa, nên mang tính chất là đường biên giới quốc tế; (2) Giữa Trung Kỳ và Campuchia là ranh giới chỉ được xác định bằng các Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Chính vì những đặc điểm lịch sử của quá trình hình thành đường biên giới như trên mà từ trước đến nay đã có nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề biên giới giữa hai nước, nhất là dưới góc độ pháp lý.


Trên đất liền, hai nước Việt Nam và Campuchia có đường biên giới chung dài 1.137 km đi qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam, tiếp giáp với 9 tỉnh biên giới của Campuchia. Trong thời kỳ thực dân Pháp thống trị, biên giới này gồm có hai phần: (1) Biên giới giữa Nam Kỳ thuộc Pháp và Campuchia được hoạch định bởi hai Thỏa ước Pháp – Cao Miên năm 1870 và 1873, đã được hai bên phân giới và cắm mốc trên thực địa, nên mang tính chất là đường biên giới quốc tế; (2) Giữa Trung Kỳ và Campuchia là ranh giới chỉ được xác định bằng các Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Chính vì những đặc điểm lịch sử của quá trình hình thành đường biên giới như trên mà từ trước đến nay đã có nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề biên giới giữa hai nước, nhất là dưới góc độ pháp lý.


Đến giữa thế kỷ XVIII (1757), lãnh thổ Việt Nam đã mở rộng đến Hà Tiên và Mũi Cà Mau, kể cả các đảo ngoài Vịnh Thái Lan và Việt Nam về cơ bản đã xác lập được chủ quyền của mình ở trên toàn vùng đất Nam Bộ.

 

Tôi được Ban tổ chức Hội thảo phân công viết về “Các Hiệp định biên giới Việt Nam – Campuchia thời Pháp thuộc và vấn đề cơ sở chính trị - pháp lý của đường biên giới Việt Nam – Campuchia”.


Đây là một vấn đề rất rộng, liên quan đến nhiều vấn đề như chủ quyền lãnh thổ quốc gia trước, trong và sau khi thực dân Pháp xâm chiếm, và quản lý hai nước Việt Nam, Campuchia nói riêng và ba quốc gia Việt Nam, Campuchia và Lào trong Liên bang Đông Dương nói chung, về hoàn cảnh ra đời các Hiệp định, Nghị định, đặc biệt là về giá trị pháp lý của chúng v.v… Những vấn đề trên đây cần phải được đề cập trong những chuyên luận mang tính chuyên sâu. Ở đây, trong khuôn khổ một tham luận trình bày tại Hội thảo, chúng tôi chỉ trình bày một vài khía cạnh của vấn đề.

I. Biên giới Việt Nam – Campuchia trước khi thực dân Pháp xâm chiếm ba nước Đông Dương
1. Một vài nét khái quát về vùng đất Nam Bộ trước khi thực dân Pháp đến xâm chiếm


Biên giới và lãnh thổ là hai phạm trù khác nhau nhưng lại có liên quan mật thiết với nhau. Do vậy, trước khi nói về các Hiệp ước, Hiệp định đã ký giữa hai nước, thiết nghĩ, cần phải đề cập đến lịch sử hình thành và chủ quyền vùng đất Nam Bộ trước khi thực dân Pháp đến. Vì thời gian và khuôn khổ hạn hẹp của một báo cáo, chúng tôi không có điều kiện trở lại toàn bộ những vấn đề của lịch sử vùng đất Nam Bộ mà chỉ nêu một vài sự kiện quan yếu như sau:


- Từ thế kỷ VII trở về đầu Công nguyên, vùng đất này thuộc Vương quốc Phù Nam. Từ thế kỷ VII, sau khi Phù Nam suy yếu, Chân Lạp – vốn là một thuộc quốc của Phù Nam – đã thôn tín vùng đất này. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, Chân Lạp chưa thiết lập một cách đầy đủ, mạnh mẽ quyền cai trị, quản lý vùng đất này. Cho đến thế kỷ XIII dân cư vùng này vẫn còn thưa thớt. Từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, những người Việt ở miền Trung, miền Bắc, do bần cùng lưu tán hay muốn tránh cuộc phân tranh đẫm máu kéo dài giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn, hoặc do rất nhiều nguyên do khác đã lần lượt theo gió mùa mà vào vùng Đồng Nai, Gia Định để kiếm sống và an thân. Mảnh đất đầu tiên mà họ tới để rồi lập nên những làng Việt đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ là Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa). Có thể nói, chính những lưu dân Việt này đã cùng với một số ít người Khmer đã di cư đến vùng đất Nam Bộ trước đó không lâu là những người đầu tiên chinh phục, khai phá vùng đất mầu mở, rộng lớn này.


- Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là công chúa Ngọc Vạn cho Quốc Vương Chân Lạp Chey Chettha II. Công chúa Ngọc Vạn được Chey Chettha II phong làm Hoàng hậu. Với sự ảnh hưởng của Hoàng hậu Chey Chettha II (sau này là Hoàng thái hậu), cư dân Việt từ Thuận – Quảng và từ một số địa phương khác vào làm ăn sinh sống ở lưu vực sông Đồng Nai ngày một đông thêm. Cũng cần phải nói thêm rằng, ngay sau khi gả con gái Ngọc Vạn cho Chey Chettha II, thiết lập mối quan hệ “thông gia” với triều đình Chân Lạp, năm 1623 chúa Nguyễn đã cho lập thương điếm tại Bến Nghé (nay là Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh). Với việc lập thương điếm tại Bến Nghé, chúa Nguyễn đã bước đầu khẳng định vị thế mới của mình ở vùng đất này.


- Cũng trong thế kỷ XVII, một số quan lại, binh lính trung thành với triều đình nhà Minh không thần phục nhà Thanh, do Tổng binh Dương Ngạn Địch (cùng các phó tướng là Hoàng Tiến, Cao Lôi Liêm) và Tổng binh Trần Thượng Xuyên (cùng phó tướng Trần An Bình) đã vượt biển đến dung thân ở miền Trung Việt Nam. Đoàn quân binh này đã được chúa Nguyễn cho đến vùng đất Đông Phố. Nhóm Trần Thượng Xuyên để “mở đất, lập phố” ở vùng Biên Hòa; nhóm Dương Ngạn Địch vượt qua rất nhiều kênh rạch, đến định cư bên bờ sông Tiền, vùng Mỹ Tho ngày nay, “họp (cùng) người Kinh, người Di, kết thành làng xóm”. Cùng thời gian này còn có nhóm của Mạc Cửu đến đất Hà Tiên “lập quốc gia riêng”. Năm 1707, Mạc Cửu cho thuộc hạ Trương Cầu và Lý Xã dâng thư lên chúa Nguyễn xin làm Hà Tiên trưởng. Chúa Nguyễn chấp thuận. Tháng 4/1711, Tổng binh Hà Tiên Mạc Cửu đã đến “cửa khuyết” để tạ ơn và được chúa Nguyễn Phúc Chu hậu thưởng. Sau khi Mạc Cửu chết, chúa Nguyễn lại tiếp tục phong cho con là Mạc Thiên Tứ là Đô đốc trấn Hà Tiên.


- Về nội bộ Chân Lạp, sau cái chết của vua Chey Chettha II (1628), Chân Lạp rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, các đời vua liên tiếp tranh nhau quyền lực, người thì dựa vào thế lực Xiêm, người lại đi tìm sự giúp đỡ từ Việt. Năm 1674, dưới sự dàn xếp của chúa Nguyễn, Chân Lạp tương đối ổn định nhưng lại chia làm hai. Chúa Nguyễn phong cho Nặc Thu (Chey Chettha III – Preh Ong Su hay Chau Po Nhia Su) làm Chính quốc vương, đóng đô ở U Đông và Nặc Nộn (Preh Ong Nuôn), thân Việt, làm Phó Quốc vương đóng ở Sài Gòn. Cả hai đều phải triều cống chúa Nguyễn. Năm 1691, Phó Quốc Vương Nặc Nộn ở Sài Gòn qua đời, khu vực phía đông Campuchia (vùng Nam Bộ nay) không có đại diện của vương triều Chân Lạp cai quản nữa.


Mặt khác, như đã nói ở trên, do cuộc nội chiến liên miên, hoàng tộc Chân Lạp chia rẽ nghiêm trọng, để tạo thế và lực cho mình, một số hoàng thân, quốc thích Chân Lạp phải nhờ đến sự giúp đỡ của chúa Nguyễn. Và, để trả ơn, một số vua, hoàng tộc Chân Lạp đã liên tiếp cắt một phần đất đai dâng tặng cho chúa Nguyễn.
Lịch sử Campuchia còn ghi rõ:
+ Năm 1732, dưới thời Preh Satha II (preh Ong Chi) sau khi được chúa Nguyễn giúp dẹp xong một bộ tộc Lào “làm loạn”, vua Satha II đã trao 2 tỉnh là Mê So (Mỹ Tho) và Long Hồ (Vĩnh Long) cho chúa Nguyễn;
+ Vua Ong Tông (Preh Bat Ria chia Thip Pạ đây III) trước khi mất (1757) đã đồng ý nhượng lại tỉnh Phsa Đéc (Sa Đéc) và hai huyện Tầm Đôn, Xuy Lạp thuộc tỉnh Long Hồ (Vĩnh Long) cùng tỉnh Moát Chruc (Châu Đốc) cho chúa Nguyễn.


+ Năm 1758 Ong Ton lên ngôi (1758-1775). Sau khi lên ngôi, Ong Ton đã dâng Chúa An Nam (Thế Tông) hai tỉnh nữa là Pré T’ro Peng (Trà Vinh) và Khleng (Sóc Trăng) để trả công.
v.v…


Về phía chúa Nguyễn, một sự kiện hết sức quan trọng, đó là vào năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai. Tại đây Nguyễn Hữu Cảnh đã cho xây dựng các dinh trấn, mở rộng đất đai, chiêu mộ dân chúng, thiết lập xã, thôn, phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế tô dung, làm sổ đinh điền… Năm 1774, chúa Nguyễn đã chia vùng đất từ nam dải Hoành Sơn đến Cà Mau làm 12 đơn vị hành chính gọi là dinh. Riêng vùng đất mới Nam Kỳ được chia thành 3 dinh, bao gồm: Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ (Vĩnh Long). Ngoài ra còn một trấn phụ thuộc là Hà Tiên. Mỗi dinh quản hạt một phủ, dưới phủ có huyện, tổng hay xã. Với những hoạt động trên đây chúa Nguyễn đã chính thức hóa và hợp pháp hóa về mặt nhà nước đối với xứ Đồng Nai – Gia Định – Sài Gòn. Và cùng với việc lập thương điểm trước đó (1623), đến thời điểm này Sài Gòn – Gia Định đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, hành chính của vùng đất mới.


Như vậy, có thể nói, đến giữa thế kỷ XVIII (1757), lãnh thổ Việt Nam đã mở rộng đến Hà Tiên và Mũi Cà Mau, kể cả các đảo ngoài Vịnh Thái Lan và Việt Nam về cơ bản đã xác lập được chủ quyền của mình ở trên toàn vùng đất Nam Bộ.

2. Biên giới Việt Nam – Campuchia trước thời thực dân


Trên vùng đất này chúa Nguyễn đã thực thi nhiều chính sách khuyến khích đặc biệt đối với việc khai phá đất hoang, cho phép người dân biến ruộng đất khai hoang được thành sở hữu tư nhân. Các chúa Nguyễn đã cho xây dựng hệ thống giao thông thủy, bộ và các công trình thủy lợi nhằm phục vụ mục đích dân sinh đồng thời cũng là để bảo vệ bờ cõi. Ví dụ, năm 1817, đào kênh Thoại Hà; từ năm 1819 đến năm 1824 đào kênh Vĩnh Tế, nối Châu Đốc với Vịnh Hà Tiên, dài 74 km. Các chúa Nguyễn cũng đã bố trí lực lượng quân sự, thiết lập các đồn thủ “nơi yếu hại” để chống giặc, giữ dân và bảo vệ chue quyền. Đồng thời kết hợp chặt chẽ các công trình xây dựng với sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo nên một tuyến phòng thủ vững chắc ở vùng biên giới”. Có thể nói, vào cuối thế kỷ XVIII, về cơ bản, chính quyền phong kiến triều Nguyễn và chính quyền phong kiến Campuchia đã xác lập và thống nhất với chủ quyền đã được phân chia trong phạm vi chủ quyền của mình. Tuy chưa có một sự đảm bảo bằng văn bản mang tính luật pháp nào nhưng trước khi thực dân Pháp xuất hiện ở đây thì biên giới giữa Việt Nam và Campuchia đã được hình thành và tương đối ổn định. Cố nhiên, đây chưa phải là một “đường biên giới” theo đúng ý nghĩa đầy đủ của nó, nó chỉ có ý nghĩa tương đối, chưa được phân vạch và cắm mốc. Nó đơn giản chỉ là ranh giới đất đai, rừng núi, sông suối do cư dân hai bên giáp biên làm chủ. Dân cư thuộc quốc gia nào thì toàn bộ ruộng nương, rừng núi mà họ sinh sống thuộc chủ quyền của quốc gia đó.

II. Quá trình hình thành đường biên giới hai nước trong thời kỳ thuộc Pháp


Sau khi chiếm ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường (1862), Pháp buộc triều đình Huế phải ký hiệp ước nhường quyền cai quản ba tỉnh này cho Pháp. Những năm tiếp theo, Pháp liên tiếp buộc triều đình Huế và Vương quốc Campuchia trở thành những kẻ lệ thuộc với những mức độ khác nhau. Đầu tiên, Pháp buộc Vương quốc Campuchia trở thành một xứ bảo hộ (1863), tiếp đến Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ, bao gồm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên (1867) và chung cục, năm 1884, triều đình Huế đã hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp. Nam Kỳ trở thành xứ thuộc địa và Trung Kỳ, Bắc Kỳ nằm dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp giống như Campuchia và Lào trước và sau đó. Năm 1887, với sự thành lập “Liên bang Đông Dương”, việc xâm chiếm toàn bộ ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia đã hoàn tất, thực dân Pháp bắt tay vào việc quản lý hành chính và khai thác thuộc địa. Việc đầu tiên là thực dân Pháp tiến hành phân định biên giới giữa các quốc gia. Cố nhiên, không phải đợi đến lúc này, khi ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia thực sự nằm trong “Liên bang Đông Dương” thì thực dân Pháp mới triển khai công việc phân chia địa giới hành chính mà công việc này được thực hiện từ khá sớm.


Như đã nói ở trên, năm 1870, nghĩa là chỉ 3 năm sau khi chiếm được “Nam Kỳ Lục tỉnh”, thực dân Pháp đã tiến hành phân định ranh giới giữa Nam Kỳ với Campuchia bằng Quyết định về việc phân định đường biên giới của Campuchia (9-7-1870) và Thỏa ước về việc xác định dứt điểm đường biên giới giữa Vương quốc Campuchia và xứ Nam Kỳ thuộc Pháp (15-7-1873). Các nhà nghiên cứu đã giải thích việc Pháp vội vã phân định ranh giới giữa một xứ thuộc địa (Nam Kỳ) với một xứ bảo hộ (campuchia) một cách khác nhau, nhưng tựu trung có ba lý do chính, đó là vì mục tiêu kinh tế, chính trị và quân sự.


Michel Blanchard cho rằng, “đường biên giới rất thiếu chính xác, và chỉ phỏng đoán khi người Pháp đến đây, lý do vì khái niệm đường biên giới của người Khmer mang tính không gian hơn là dạng tuyến và do người Việt coi biên giới của mình như một vùng khai khẩn đang được mở rộng. Cho nên tại đây tất cả còn đang rất phức tạp, chồng chéo. Nhưng khu vực dưới quyền kiểm soát quân sự của Việt Nam, cũng thường là vùng người Campuchia thường sinh sống, họ tiếp tục nộp thuế cho triều đình Ouđông. Những địa phương có người của hai nước sinh sống, nhưng đa phần là người Khmer cũng phải nộp cống cho hai nước”. (Vì vậy), “người Pháp đã cố gắng rất nhanh chóng tạo ra một đường biên giới phù hợp với những khái niệm của người Châu Âu, dựa vào những chướng ngại vật tự nhiên càng nhiều càng tốt”. Trần Văn Minh cũng có cái nhìn từ góc độ kinh tế như vậy khi dẫn Thư của Thống đốc Nam Kỳ ngày 15-7-1869 gửi Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa Pháp: “Lý do giản dị là các dân cư ở vùng biên giới tìm cách trốn thuế, tự xưng là người Cao Miên nếu gặp nhân viên sở thuế Nam Kỳ, và nhận là dân Nam Kỳ khi gặp sở thuế Cao Miên”. Các tác giả “Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng” có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về vấn đề này: “một mặt Pháp muốn bảo vệ quyền sở hữu của họ ở Nam Kỳ, chống lại mọi sự xâm nhập của Xiêm do Anh chỉ huy từ xa nhằm hạn chế ảnh hưởng của Pháp ở Viễn Đông. Pháp muốn ngăn cản khả năng Xiêm kiểm soát các đường sông có tầm quan trọng quyết định về chiến lược cũng như về thương mại của Campuchia. Người Pháp cũng muốn bảo vệ quyền lợi của họ đối với tài nguyên cả ở Campuchia và mong muốn có cơ may kiểm soát toàn bộ lưu vực sông Mêkông (…), đồng thời tạo thế phòng thủ vững chắc ở phía Nam, lấy Campuchia làm vùng đệm giữa Thái Lan và Việt Nam; mặt khác ổn định ranh giới phía Nam để tập trung chuyển hướng đánh chiếm Bắc Việt Nam”.


1. Việc phân định ranh giới giữa Việt Nam và Campuchia trong thời Pháp thuộc


Ranh giới giữa hai nước được phân định trong thời Pháp thuộc bao gồm hai đoạn: đoạn biên giới giữa Nam Kỳ với Campuchia và đoạn biên giới giữa Trung Kỳ với Campuchia. Hai đoạn biên giới này được hình thành trên cơ sở các Thỏa ước được ký kết giữa Pháp với Campuchia và các Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Tuy nhiên, tùy theo các quy chế đã được xác lập ở mỗi xứ trong những thời gian cụ thể mà chính quyền thực dân tiến hành việc phân ranh theo những trình tự thủ tục pháp lý riêng (khi thì hoạch định bằng các Thỏa ước, có phân giới cắm mốc trên thực địa, khi thì bằng các văn bản do Toàn quyền Đông Dương ban hành, không phân vạch và cắm mốc trên thực địa). Dưới đây, chúng tôi trình bày một số văn bản phân định biên giới hai nước trong thời kỳ thuộc Pháp.
A. Đoạn biên giới từ Tây Ninh đến Hà Tiên
Thỏa ước Pháp – Campuchia ngày 9-7-1870


Theo cuốn “Lịch sử biên giới trên đất liền…” (tài liệu đã dẫn) thì để chuẩn bị cho việc soạn thảo và ký kết thỏa ước, tháng 3-1970, một Ủy ban liên hợp Pháp – Campuchia đã được thành lập. Ủy ban này có nhiệm vụ nghiên cứu vạch ra một đường biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia. Trong tháng 3-1870, Ủy ban này đã tiến hành phân ranh trên thực địa và cắm được 19 cột mốc từ bờ sông Tônlê Tru (mốc No1) đến Hưng Nguyên (mốc No19). Do có sự khiếu nại của phía Campuchia nên khi ký Thỏa ước ngày 9-7-1870, Ủy ban chỉ xác nhận đoạn ranh giới từ bờ sông Tônlê Tru (vị trí mốc No1) đến điểm rạch Tà Sang gặp rạch Cái Cậy (vị trí mốc No 16), hủy bỏ đoạn ranh giới từ mốc No 17 đến mốc No 18 đến Hưng Nguyên nhưng lại nhượng phần đất nằm giữa rạch Cái Cậy và rạch Cái Bác (tức rạch Beng Gô hay sông Vàm Cỏ) cho phía Campuchia, đổi lại 486 nóc nhà hợp thành các làng Snok Tranh, Bang Chnum và dành cho Nam Kỳ thuộc Pháp dải đất dọc theo hai bên sông Vàm Cỏ. Điều đáng lưu ý là theo Thỏa ước này thì “đường ranh giới sẽ được vạch sau…”.


Sau khi ký Thỏa ước 1870, chính quyền thực dân đã tiến hành nghiên cứu để hoạch định đoạn biên giới giữa Hà Tiên (lúc đó là một quận thuộc Nam Kỳ) và Campuchia. Biên bản hoạch định ranh giới ký ngày 23-1-1872 và ngày 5-4-1876 đã xác định một cách cụ thể đoạn từ cột mốc No 124 đến bờ biển Hà Tiên: “Đường biên giới giữa Vương quốc Campuchia và Nam Kỳ thuộc Pháp (quận Hà Tiên) xuất phát từ phía Đông đi theo kênh Vĩnh Tế đến nơi mà kênh này gặp rạch Giang Thành, cách Hà Tiên 2 km, từ điểm này ranh giới được tạo thành do một thành lũy cũ của An Nam sau khi kéo dài 8.040m đến gặp vịnh Xiêm ở điểm tên là Hòn Táo ở vĩ tuyến 10023’15” Bắc” (Biên bản hoạch định đoạn biên giới Campuchia giáp với quận Hà Tiên, ngày 32-1-1872).


Thỏa ước Pháp – Campuchia ngày 15-7-1873.


Ngày 15-7-1873, Quốc vương Campuchia Nôrôđôm và Thống đốc Nam Kỳ, Chuẩn đô đốc Dupré nhân danh Chính phủ Pháp đã ký tiếp Thỏa ước về biên giới giữa Vương quốc Campuchia và Nam Kỳ thuộc Pháp. Đường biên giới được hai bên nhất trí thỏa thuận lần này có đặc điểm nổi bật so với đường biên giới trong thỏa ước 1870. Đó là một đường biên giới được xác định dứt khoát và dựa vào các con sông hay các biến đổi địa hình khá ổn định và rõ ràng để tránh mọi tranh chấp về sau. Thỏa ước cũng đã quy định các điểm chính mà đường biên giới sẽ đi qua. Điểm xuất phát là tại cột No 1 đặt trên bờ con sông nhỏ Tonle Tru đến làng Giang Thành và từ đó đi thẳng đến Hà Tiên.


Với hai Thỏa ước nói trên đường biên giới giữa Campuchia và Nam Kỳ đã được xác lập. Tuy nhiên do có những phát sinh trong quá trình quản lý thực tế, nên sau đó, đường biên giới này – dù được xác định là “dứt khoát” như trong Thỏa ước 1873 – đã được sửa đổi, điều chỉnh ở một số điểm bởi các Nghị định khác nhau của Toàn quyền Đông Dương. Cụ thể:


1. Nghị định ngày 10-12-1898: sửa đổi một đoạn trên biên giới giữa Tây Ninh và tỉnh Svey-riêng.
2. Nghị định ngày 20-3-1899: điều chỉnh đoạn biên giới từ mốc No 41 đến mốc No 50 thuộc tỉnh Long An và Svey – riêng.
3. Nghị định ngày 31-7-1914: Nghị định này có 4 điều, trong đó có 3 điều sửa đổi biên giới liên quan đến các đoạn biên giới:
Đoạn biên giới giữa tỉnh Hà Tiên và Campot.
Đoạn biên giới giữa tỉnh Tây Ninh và Prey-veng.
Đoạn biên giới giữa tỉnh Thủ Dầu Một và Kôngpông Chàm.

4. Nghị định ngày 6-12-1935: Nghị định này thay đổi ranh giới các tỉnh Châu Đốc (Nam Kỳ) và Candal (Campuchia) giữa sông Mê Công và sông Bassac.

5. Nghị định ngày 11-12-1936: Nghị định này thay đổi ranh giới giữa các tỉnh Châu Đốc (Nam Kỳ) và Prey Veng (Campuchia).
B. Đoạn biên giới từ Tây Ninh đến biên giới Việt Nam – Campuchia – Lào.
Đoạn biên giới này được xác lập bởi: Nghị định ngày 26-7-1893 của Thống đốc Nam Kỳ (do Phó Thống đốc F. Foures ký) quyết định thành lập huyện Cần Lê thuộc tỉnh Thủ Dầu Một và Nghị định ngày 31-7-1914 của Toàn quyền Đông Dương (tại Điều 3 của Nghị định: điều chỉnh đoạn biên giới giữa các tỉnh Thủ Dầu Một và Kongpong Chàm).
C. Ranh giới giữa Trung Kỳ và Campuchia


Theo các tác giả cuốn “Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng” (tài liệu đã dẫn) thì “không có văn bản xác định đường biên giới như ở Nam Kỳ và Campuchia, chỉ có hai văn bản quy định ranh giới của các tỉnh Trung Kỳ, theo đó xác định được ranh giới giữa Trung Kỳ với Campuchia (Nghị định ngày 16-12-1904 và ngày 4-7-1905 của Toàn quyền Đông Dương). Riêng đoạn biên giới dọc theo sông Dakdam thuộc tỉnh Đắc Lắc và một đoạn ngắn theo sông Sê San thuộc tỉnh Pleiku (tỉnh Gia Lai ngày nay) được xác định bằng các Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ký ngày 30-3-1932 và 4-3-1933 (quy định về ranh giới hành chính phía Tây của các tỉnh đó theo suối Dakdam và sông Sê San). Ranh giới giữa Trung Kỳ và Campuchia chưa được cắm mốc giới trên thực địa”.

III. Một số ý kiến khác nhau về “tính hợp thức”hay giá trị pháp lý của đường biên giới Việt Nam – Campuchia thời thuộc Pháp


Đường biên giới Việt Nam – Campuchia thời thuộc Pháp, từ khi hình thành cho đến nay đã có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau.
Có nhiều ý kiến thừa nhận tính hợp thức hay giá trị pháp lý của đường biên giới Việt Nam – Campuchia được hình thành trong thời kỳ thực dân Pháp xâm chiếm ba nước Đông Dương. Tuy nhiên cũng còn có không ít ý kiến tỏ ra băn khoăn, thậm chí không thừa nhận tính pháp lý của nó.
Thực ra, vấn đề tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ, quốc gia, tranh chấp biên giới là những hiện tượng không còn xa lạ, thậm chí đang diễn ra hàng ngày trên phạm vi thế giới – dù là một thế giới đã bước sang thời kỳ “toàn cầu hóa” hay “số hóa”.
Theo luật gia Lưu Văn Lợi, có bốn loại tranh chấp về biên giới:
Tranh chấp về chủ quyền một đoạn biên giới đã được hoạch định.
Tranh chấp về quá trình phân vạch biên giới.
Tranh chấp về việc phân vạch trên thực địa.
Tranh chấp về quản lý biên giới.

Qua theo dõi một số tài liệu, chúng tôi thấy các ý kiến được nêu ra, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều có liên quan đến bốn vấn đề đã nêu trên. Tuy nhiên, trong khuôn khổ báo cáo này, chúng tôi chỉ nêu lên một số ý kiến liên quan đến đường biên giới giữa hai nước đã được hình thành trong thời kỳ thực dân qua đó làm rõ thêm về cơ sở pháp lý của nó.
Vấn đề “chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ”.

Trước hết phải khẳng định rằng hiện nay vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ đã được luật pháp quốc gia và quốc tế thừa nhận, khẳng định và trên thực tế, từ rất lâu, Nam Bộ đã là một bộ phận không thể tách rời của đất nước Việt Nam. Chính phủ, luật pháp Campuchia hiện này cũng hoàn toàn thừa nhận điều này. Song, lúc này hay lúc khác, người này hay người khác, không phải không có những ý kiến ngược lại, cho dù họ là thiểu số hoặc ở trong môt thời điểm nhất định. Mục đích của họ không chỉ là vấn đề đòi lãnh thổ mà qua đó phủ nhận cơ sở pháp lý của đường biên giới được hình thành trong thời thuộc địa, đi xa hơn, có người còn muốn trở thành “biên giới lịch sử”. Năm 1959, phái đoàn của Campuchia ở Liên hiệp quốc đã cho lưu hành một tài liệu với tiêu đề “Nam Kỳ: lãnh thổ của người Khmer”. Một trong những vấn đề được phía Campuchia nêu ra là không có một văn bản mang tính pháp lý (cả quốc gia và quốc tế) công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ. Tài liệu có đoạn: “không có bất cứ một vùng lãnh thổ Nam Kỳ nào là phần thưởng được trao cho người An Nam bởi một quyết định mang tính quốc gia tối cao, cũng như không có cộng đồng các quốc gia – community of states (Hội nghị, Hội quốc liên – League of Nationans, Tổ chức Liên hiệp quốc) hoặc một tổ chức pháp lý quốc tế nào thực hiện hành động như vậy”.
Vấn đề này được nhìn nhận như thế nào?

Đúng là, về văn bản pháp lý (không nói đến thực tiễn quản lý và thụ đắc lãnh thổ), trước khi Thỏa ước ngày 9-7-1870 và Thỏa ước về việc xác định dứt điểm đường biên giới giữa Vương quốc Campuchia và Nam Kỳ thuộc Pháp (ngày 15-7-1873) được ký kết thì chưa có một văn bản có tính quốc tế nào đề cập một cách chính thức và trực tiếp về chủ quyền vùng đất này. Nhưng nói như thế không có nghĩa là không có một bất kỳ một văn bản mang tính quốc tế nào đề cập, hoặc liên quan đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam ở vùng đất Nam Bộ. Đã có khá nhiều tài liệu liên quan đến chủ quyền ở vùng đất Nam Bộ, bao gồm các Hiệp ước, Hiệp định, Thỏa ước song phương và đa phương mà giá trị khách quan của nó là gián tiếp thừa nhận tính hợp pháp của hai Thỏa ước đã ký. Một vài ví dụ:


1. Hiệp định giữa Việt Nam, Xiêm và Cao Miên


Tháng 12-1845, ba quốc gia là Việt Nam, Xiêm và Cao Miên đã ký một hiệp định, trong đó thừa nhận về mặt pháp lý, Nam Kỳ thuộc về Việt Nam. Sau đó một năm, hiệp ước năm 1846 giữa An Nam và Xiêm đã tái xác nhận về vấn đề này. Lưu ý là Campuchia cũng tham gia hiệp ước. Với sự kiện này, Raoul Marc Jennar trong công trình “Các đường biên giới của nước Campuchia cận đại” đã khẳng định “Về pháp lý, một quá trình bắt đầu từ hơn 200 năm trước đã được thừa nhận dứt khoát trong một văn kiện pháp lý quốc tế năm 1864, diễn ra 12 năm trước thời điểm khi các đơn vị quân đội Pháp đầu tiên đến”. Tác giả còn viết tiếp: “Chắc chắn, với việc tuyên bố chiến tranh với An Nam năm 1859, Campuchia muốn từ bỏ hiệp ước năm 1846 trong những điều quy định liên quan đến An Nam, nhưng tình trạng pháp lý được tạo ra như thế không khôi phục được chủ quyền của Campuchia trên lãnh thổ Nam Kỳ mà Campuchia đã phải từ bỏ qua hiệp ước năm 1846”.


Hiệp ước Việt – Xiêm năm 1847


Năm 1847, hai nước Việt và Xiêm đã ký một bản hiệp ước với sự chứng kiến của vua Cao Miên là Ang Dương. Đây là một văn bản mang tính pháp lý quốc tế cao (Hiệp ước) khẳng định vùng đất Nam Kỳ thuộc chủ quyền Việt Nam trước khi Pháp sang xâm chiếm và đô hộ. Nội dung Hiệp ước, theo các sử gia thì Hiệp ước đã công nhận Ang Dương là vua Cao Miên, nhưng Cao Miên nhận là chư hầu của hai nước Việt và Xiêm; triều đình Huế phong vua Ang Dương làm Cao Miên Quốc vương, trả lại Cao Miên các quận chúa và hoàng tộc hay đại thần đã bị đem sang giữ ở Việt Nam và ngược lại, Cao Miên xác nhận các đất Nam Kỳ thuộc về Việt Nam. Vấn đề quan trọng ở đây là Cao Miên đã chấp nhận là chư hầu của Việt (cùng với Xiêm). Chính vì Cao Miên chấp nhận làm chư hầu của Việt mà nhiều học giả cho rằng Việt Nam có “quyền bá chủ” đối với Campuchia (một số học giả cũng coi “quyền bá chủ” này như một “quyền lịch sử” – xem Trần Văn Minh, tài liệu đã dẫn). Nhờ quyền bá chủ này mà về sau, khi đặt nền bảo hộ ở Campuchia (1863), Pháp đã sử dụng quyền bá chủ đó với Campuchia và đổi quyền bá chủ thành quyền bảo hộ (Hiệp ước bảo hộ Pháp – Campuchia ngày 11-8-1863 có ghi “… Hoàng đế của người Pháp đã chỉ định đại diện của mình là Chuẩn Đô đốc De la Grandière, Thống đốc và Tổng chỉ huy ở Nam Kỳ làm nhiệm vụ giải quyết với đức vua Campuchia các điều kiện, theo đó Hoàng đế của người Pháp đồng ý chuyển các quyền bá chủ của mình đối với vương quốc Campuchia thành một nước bảo hộ”). Cố nhiên, việc Pháp sử dụng “quyền bá chủ” của Việt Nam chỉ là một cách tự hành xử, tự nhận của người Pháp mà thôi chứ trong các văn bản chính thức (như Hiệp ước 1862) không thấy có điều khoản nào thể hiện Việt Nam đã trao quyền đó cho người Pháp (Xim xem bài của Trần Văn Minh, tài liệu đã dẫn, để hiểu rõ hơn về vấn đề “quyền bá chủ” của Việt Nam).

2. Hiệp ước Pháp – Tây Ban Nha – Việt Nam


Hiệp ước Pháp – Tây Ban Nha và Việt Nam (ký tại Sài Gòn ngày 5-6-1862 và trao đổi văn bản phê chuẩn tại Huế, ngày 14-4-1863) đã khẳng định quyền lực của Việt Nam trên lãnh thổ Nam Kỳ. Điều 3 của bản hiệp ước quy định “chủ quyền đối với ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cũng như Côn Đảo được chuyển nhượng hoàn toàn cho hoàng đế nước Pháp. Đối với chúng ta, Hiệp ước 1862 (và sau này còn có hiệp ước 1874) là một nỗi đau, vì với bản hiệp ước đó, đất nước chúng ta đã phải mất đi một phần máu thịt thiêng liêng của mình. Song, mặt khác nó đã (một lần nữa) thừa nhận, vùng đất này vốn là của Việt trước khi bị “chuyển nhượng” cho thực dân Pháp, vì theo nguyên tắc, chỉ có chủ nhân của nó (Việt) mới có quyền “chuyển nhượng” cho một đối tượng khác (Pháp). Điều này đã được chính chính phủ Pháp khẳng định lại trong thư gửi cho Quốc vương N.Sihanuk ngày 8-6-1949 rằng “Chính từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam (…). Về pháp lý, nước Pháp có cơ sở để thỏa thuận với Hoàng đế Bảo Đại việc sửa đổi quy chế chính trị của Nam Kỳ và chính là với Chính phủ Việt Nam ngày nay”.


3. Hiệp ước bí mật Xiêm – Cao Miên ngày 1-12-1863


Cũng có thể có người cho rằng các văn bản mang tính pháp lý quốc tế nói trên được xác lập với sự tham gia của Việt Nam và Pháp, đương nhiên sẽ có những điều khoản có lợi cho Việt Nam (cũng có nghĩa là có lợi cho Pháp). Nhưng trong thực tế cũng có những văn bản pháp lý không có sự tham gia của Việt Nam và Pháp vẫn chứng tỏ rằng vùng đất Nam Kỳ thuộc chủ quyền Việt Nam. Đó là Hiệp ước bí mật Xiêm – Cao Miên ngày 1-12-1863 được ký giữa một bên là ông Phya Rajawranukul – người được trao toàn quyền của vua Xiêm và bên kia là ông Phra Norôđôm Phrôm Briraksa Maha Uperat – Phó vương Campuchia và ông Phra Harirat Danai Krai Keofa, cùng với một số quý tộc Campuchia khác. Hiệp ước có đoạn viết: “Campuchia nằm giữa các lãnh thổ Xiêm, Nam Kỳ và các vùng đất thuộc Pháp, do đó việc ký hiệp ước giải quyết những vấn đề cũ và mới dùng làm kim chỉ nam cho các nhà cai trị và các nhà quý tộc của Campuchia, hiện nay và trong tương lai, cũng như các nhà cai trị các bang khác nhau của Xiêm là phù hợp”. Lời văn trên chứng tỏ cả Campuchia và Xiêm đều công nhận Nam Kỳ là một vùng đất không phải là của Campuchia (“Campuchia nằm giữa các lãnh thổ Xiêm, Nam Kỳ”); điều đó cũng có nghĩa là vùng đất Nam Kỳ thuộc về Việt Nam.


a. Về việc Chính phủ Pháp trao trả vùng đất Nam Bộ cho Việt Nam


Ngày 4-6-1949, Tổng thống Pháp Vincent Aurol cùng với Thủ tướng Henrr Queuille và Bộ trưởng lãnh thổ Hải ngoại Pháp Paul Coste-Floret đã ký luật 49-733. Điều 2 của luật quy định “Vùng đất Cochinchine được trao lại nhà nước thuộc địa Việt Nam theo Tuyên bố chung ngày 5-6-1948 và Tuyên bố của Chính phủ Pháp ngày 19-8-1948. Vùng đất Cochinchine không còn nằm trong quy chế lãnh thổ thuộc Pháp”.


Trước khi Chính phủ Pháp chuẩn bị trao trả lại vùng đất Nam Bộ cho Việt Nam, vấn đề chủ quyền vùng đất này đã được phía Campuchia khơi lại. Các yêu sách của Campuchia liên quan đến ba vấn đề lớn: số phận của những người Khmer Nam Bộ, đường biên giới và khả năng về đường biển qua sông Mê Kông và cảng Sài Gòn.


Ngày 25-6-1945, N. Sihanuk ra tuyên bố về quan điểm của Campuchia về vùng đất Nam Kỳ, ngày 20-1-1948 N.Sihanuk gửi thư cho Cao ủy Cộng hòa Pháp để phản đối ý định của Pháp. Gần thời điểm ra đời sắc luật nói trên, ngày 2-4-1949, N.Sihanuk gửi Chủ tịch Liên hiệp Pháp bức thư, trong đó nói rõ: “Việc hoạch định biên giới giữa Campuchia và Nam Kỳ đã được xác định căn cứ vào chủ quyền của Pháp ở Nam Kỳ. Theo các quan hệ chính trị nhất định, việc từ bỏ dễ dàng được chấp nhận cho Pháp và chỉ cho Pháp mà thôi, không thể đương nhiên chuyển quyền đó cho Việt Nam và coi như được chấp nhận cho Việt Nam”.


Những lập luận trên của N.Sihanuk và của những người tán đồng, ủng hộ chúng đã bị chính Chính phủ Pháp phản bác. Trong thư gửi N.Sihanuk, ngày 8/6/1949, Chính phủ Pháp đã khẳng định: “… Ngoài những lý do thực tiễn, những lý do pháp lý và lịch sử không cho phép Chính phủ Pháp trù tính các cuộc đàm phán song phương với Campuchia để sửa lại các đường biên giới của Nam Kỳ. Quốc vương hẳn cũng biết rằng Nam Kỳ đã được Annam nhượng cho Pháp theo các hiệp ước năm 1862 và 1874…”. Chính phủ Pháp cũng khẳng định rằng “chính từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam” và lưu ý Campuchia rằng “cần hết sức thận trọng” vì “lịch sử ngược lại với luận thuyết (của Campuchia – người viết) cho rằng miền Tây Nam Kỳ vẫn còn thuộc triều đình Khmer lúc Pháp tới…”.


Tại Hội nghị Giơ-ne-vơ (Pari) về Đông Dương năm 1954, vấn đề lãnh thổ Nam Kỳ và vấn đề biên giới Campuchia – Việt Nam một lần nữa cũng đã được phía Campuchia nêu ra thông qua đoàn đại biểu của mình (phái đoàn Campuchia đã đưa ra 6 giải pháp). Tại Hội nghị này Vương quốc Campuchia đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận về sự độc lập, thống nhất đất nước. Nhưng sáu giải pháp, đặc biệt là hai vấn đề mà Campuchia quan tâm nhất là biên giới và đất đai ở Nam Kỳ đã không được cộng đồng quốc tế giải quyết.


b. Tính hợp thức của các Thỏa ước 1870, 1873


Một số (không nhiều) nghi ngờ về tính hợp thức của các Thỏa ước năm 1870 và 1873. Họ cho rằng Vua Campuchia bị chính quyền Pháp ép ký vào các bản Thỏa ước năm 1870 và 1873, rằng đó là những bản thỏa ước bất bình đẳng, được ký giữa một nước mạnh và một nước yếu, một nước bảo hộ (Pháp), một nước bị bảo hộ (Campuchia). Vì sự chênh lệch, sự bất bình đẳng đó nên các thỏa ước trên không giá trị, hoặc bị vô hiệu.
Về vấn đề này, năm 1949, để trả lời Công chúa Yukanthor tại Quốc hội Pháp, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Pháp nhắc lại rằng các Thỏa ước năm 1870 và 1873 đã có sự thỏa thuận của Campuchia và nhiều biên bản xác định ranh giới, thí dụ ở Hà Tiên, đã được hai bên nghiên cứu kỹ rồi chấp thuận”. Sau đó, năm 1957, trong một công hàm gửi Bộ Ngoại giao Campuchia, Đại sứ Pháp ở Phnôm Pênh cũng khẳng định lại tính cách vô tư của các Thỏa hiệp năm 1870 và 1873. Mặt khác, nhiều người đặt câu hỏi, nếu như đã có một sự ép buộc – như một số người nêu ra, thì tại sao trong các Hiệp ước sau này như Hiệp ước 1884, không thấy một điều khoản nào của phía Campuchia đưa ra để bảo lưu vấn đề vùng đất Nam Bộ…
Cũng có người căn cứ vào điều 3 của Hiệp ước Pháp – Xiêm năm 1867 mà cho rằng việc làm của người Pháp nói trên là trái với những cam kết giữa hai nước (Pháp – Xiêm) (Sarin Chhak trong luận văn tiến sỹ “Các đường biên giới của Campuchia”) và Công hàm của Bộ Ngoại giao Campuchia gửi Đại sứ Pháp tại Phnôm Pênh ngày 10-1-1965 đều cùng quan điểm rằng biên giới do chính quyền thuộc địa quy định tại hai thỏa ước 1870 và 1873 đã dẫn đến kết quả là lấy đất của Campuchia cho Nam Kỳ. Như vậy trái với Hiệp ước Pháp – Xiêm ngày 15-7-1867).
Về vấn đề này, các nhà luật học cho rằng, tuy sự cam kết có lợi cho Campuchia nhưng Campuchia không phải là một trong các bên tham gia ký Hiệp ước (chỉ là bên thứ 3 có liên quan), do vậy, về phương diện pháp lý, Campuchia không đủ tư cách để bắt buộc Pháp hay Xiêm phải thi hành các điều đã cam kết. Các nhà luật học còn cho biết rằng đã từng có các án lệ quốc tế diễn ra theo chiều hướng này.


Mặt khác, theo chúng tôi, nếu nghiên cứu kỹ điều 3 nói trên, chúng ta sẽ thấy bản thân nó (lời văn của Hiệp ước) đã phân biệt hai đối tượng rõ ràng: một bên là Campuchia (thuộc xứ bảo hộ) và một bên là Nam Kỳ (thuộc xứ thuộc địa). Nên khi Pháp cam kết không sát nhập (thôn tính) Campuchia vào Nam Kỳ thì chỉ có thể hiểu rằng Pháp cam đoan duy trì chế độ bảo hộ của họ ở Campuchia và không biến Campuchia thành xứ thuộc địa như Nam Kỳ.


Cũng không nên quên rằng, vào thời điểm ký hai Thỏa ước này, Nôrôđôm vẫn còn là Vua của một quốc gia. Dù đó là Vua của một quốc gia được đặt dưới sự bảo hộ của Pháp, thì về mặt pháp lý, vẫn còn có địa vị tương đối. Do vậy, không thể nói rằng các Thỏa ước này là vô hiệu.


c. Về nguyên tắc giữ nguyên trạng (Uti posidetis).


Cốt lõi của nguyên tắc này là các nước mới thu hồi độc lập sau khi phi thực dân hóa phải tôn trọng các biên giới thuộc địa và không thể tự ý đơn phương sửa đổi các biên giới đó.


Về vấn đề này, Sarin Chhak, trong luận văn tiến sĩ viết năm 1946 cho rằng “việc đặt lại vấn đề những đường biên giới hiện nay của Campuchia, những đường biên giới đã không được xác định bởi các hiệp ước quốc tế là một yêu cầu pháp lý tất yếu, một đòi hỏi quan trọng khi Campuchia đã giành được độc lập”. Quan điểm của Sarin Chhak được một số người ở Campuchia tán thành, song lại bị nhiều học giả phản bác. Thứ nhất, điều này (nguyên tắc giữ nguyên trạng) đã có tiền lệ ở châu Mỹ La-tinh, châu Phi; thứ hai, nếu tất cả các quốc gia sau khi giành được độc lập sẽ đòi lại biên giới trước đây của mình thì thế giới sẽ rối loạn; thứ ba, nguyên tắc giữ nguyên trạng không được trái với Công ước Viên ngày 23-5-1969 (Điều 62, khoản hai của Công ước Viên ngày 23-5-1969 về luật hiệp ước: Một sự thay đổi hoàn cảnh không có thể được nêu lên là lý do để chấm dứt một hiệp ước hay để rút khỏi hiệp ước: a) Nếu đó là hiệp ước thiết lập đường biên giới…). Mặt khác, chính Sarin Chhak cũng tự mâu thuẫn với chính mình. Khi đòi lại vùng đất ở biên giới phía Tây đã mất vào tay Thái Lan thì ông tán thành quy tắc giữ nguyên trạng, còn với phần đất phía Đông (biên giới Campuchia – Việt Nam) thì Sarin Chhak lại phản đối.


Về vấn đề này có thể tham khảo thêm Michel Blanchard và Trần Văn Minh trong các công trình đã dẫn.


Phạm vi bài viết có hạn, những gì chúng tôi trình bày ở trên chỉ hy vọng góp phần làm sáng tỏ thêm những đặc điểm lịch sử, cơ sở pháp lý của đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Campuchia trong thời thuộc Pháp mà nhiều tác giả đã viết. Đó là một đường biên giới được hình thành trong một thời gian dài, được bổ sung sửa đổi, điều chỉnh nhiều lần để phù hợp với nguyện vọng và tình hình quản lý thực tế của chính quyền và nhân dân địa phương hai bên biên giới nhằm mục đích xác định ranh giới giữa Nam Kỳ với Campuchia ngày một rõ ràng hơn. Đó là một đường biên giới vừa có tính chất là một đường biên giới quốc tế, được ký kết giữa hai chủ thể (quốc gia), có phân giới và cắm mốc trên thực địa (đoạn biên giới từ Tây Ninh đến Hà Tiên); vừa là một ranh giới mang tính hành chính, được xác định bằng các Nghị định của Toàn quyền Đông Dương (đoạn biên giới từ Tây Ninh đến ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia). Và, có thể nói, mặc dù còn nhiều vấn đề cần phải được tu chỉnh, sửa đổi về sau này (như hai nước đã và đang làm hiện nay), song về cơ bản, đường biên giới giữa hai nước đã giữ được nguyên trạng ranh giới lãnh thổ của hai nước. Chúng tôi muốn sử dụng một đoạn trong cuốn “Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng” (tlđd) để thay cho sự đánh giá về đường biên giới giữa hai nước thời thuộc Pháp: “Cho đến trước khi Pháp rút khỏi Đông Dương, toàn bộ đường biên giới trên đất liền giữa Nam Kỳ, Trung Kỳ của Việt Nam và Campuchia đã được thể hiện tương đối đầy đủ trên bản đồ Bonne tỷ lệ 1 / 100.000 do Sở Địa dư Đông Dương xuất bản, tuy vẫn còn có những khiếm khuyết, nhưng thành quả này sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để Việt Nam và Campuchia cùng nhau thảo luận vấn đề biên giới giữa hai nước với tư cách là quốc gia độc lập và thực sự có chủ quyền”.
 

TS. Nguyễn Sỹ Tuấn, Viện nghiên cứu Đông Nam Á
Các tin khác  
Trang đầu 12345678910... Trang cuối
 
 
 
 
 
 
Hit counter
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tin vắn  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thời tiết
 
Thành phố
Thời tiết hiện tại
Loading
Nhiệt độ: 27°C
Độ ẩm: 76%
Tốc độ gió: 7km/h